BÀI KINH SÁU SÁU

Th32

KINH SÁU SÁU
(Chachakka Sutta)
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô
Ðộc).
Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.
— “Thưa vâng, Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
— Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta
sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ
giảng.
— Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
(Tóm lược)
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
— Sáu nội xứ cần phải được biết. Sáu ngoại xứ cần phải được biết. Sáu thức thân cần phải được biết. Sáu
xúc thân cần phải được biết. Sáu thọ thân cần phải được biết. Sáu ái thân cần phải được biết.
(Liệt kê)
Khi được nói đến “Sáu nội xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ,
tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến “Sáu nội xứ cần phải được biết “, chính do duyên này
được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ nhất.
Khi được nói đến “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh
xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến “Sáu ngoại xứ cần phải được biết”, chính do
duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ hai.
Khi được nói đến “Sáu thức thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt
và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do
duyên mũi và do duyên các hương, khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị, khởi lên thiệt
thức. Do duyên thân và do duyên các xúc, khởi lên thân thức. Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi
lên ý thức. Khi được nói đến “Sáu thức thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói đến như
vậy. Ðây là sáu sáu thứ ba.

 

2
Khi được nói đến “Sáu xúc thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt
và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên tai và do duyên
các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên mũi và do duyên các hương
khởi lên tỷ thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt
thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức. Sự
gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba
(pháp này) là xúc. Khi được nói đến “Sáu xúc thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói
đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ tư.
Khi được nói đến “Sáu thọ thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt
và do duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do
duyên tai và do duyên các tiếng khởi lên nhĩ thức… Do duyên mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ
thức… Do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức… Do duyên thân và do duyên các xúc khởi
lên thân thức… Do duyên ý và do duyên các pháp, khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc.
Do duyên xúc là thọ. Khi được nói đến “Sáu thọ thân cần phải được biết”, chính do duyên này được nói
đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ năm.
Khi được nói đến “Sáu ái thân cần phải được biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và
duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên
thọ là ái. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức… Do duyên mũi và do duyên các hương
khởi lên tỷ thức… Do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức… Do duyên thân và do duyên
các xúc khởi lên thân thức… Do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp
này) là xúc.

3
Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến “Sáu ái thân cần phải được biết”,
chính do duyên này được nói đến như vậy. Ðây là sáu sáu thứ sáu.
(Giảng về vô ngã)
Nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì
rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy,
nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.
Nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các sắc đã được
thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và
diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt
là vô ngã, các sắc là vô ngã.
Nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã
được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã
sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như
vậy con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã
được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở
nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy, là không hợp lý. Như vậy con mắt là vô
ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy.
Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi
tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các
sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.

 

4
Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì
rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy
nếu ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã,
nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Tai là tự ngã”…; nếu có ai nói rằng: “”Mũi là tự ngã”…; nếu có ai nói rằng: “Lưỡi là
tự ngã”…; nếu có ai nói rằng: “Thân là tự ngã”…; nếu có ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp
lý. Sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết
luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy nếu ai nói rằng: “Ý là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.
Như vậy ý là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy, là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các pháp đã
được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở
nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các pháp là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy, ý là vô ngã,
các pháp là vô ngã. Nếu có ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy, là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt
của ý thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã
sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ý thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy ý
là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã.
Nếu có nói rằng: “Ý xúc là tự ngã “, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được
thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”.
Do vậy, nếu có ai nói rằng: “Ý xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy ý là vô ngã, các pháp là
vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã.

 

5
Nếu có ai nói: “Thọ là tự ngã”, như vậy không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã dược thấy. Vì rằng
sự sanh và sự diệt đã được thấy, nên đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu có ai
nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Như vậy ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là
vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.
Nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy,
nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy nếu có ai nói rằng: “Ái là tự ngã”,
như vậy là không hợp lý. Như vậy ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ
là vô ngã, ái là vô ngã.
(Nguồn gốc và đoạn diệt thân kiến)
Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: “Cái này
là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Ai quán các sắc… Ai quán nhãn thức… Ai quán nhãn
xúc… Ai quán thọ… Ai quán ái… Ai quán tai… Ai quán mũi… Ai quán lưỡi… Ai quán thân… Ai quán ý…
Ai quán các pháp… Ai quán ý thức… Ai quán ý xúc… Ai quán ái: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái
này là tự ngã của tôi”.
Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. Ai quán mắt: “”Cái này
không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Ai quán sắc… Ai
quán nhãn thức… Ai quán nhãn xúc… Ai quán thọ… Ai quán ái… Ai quán tai… Ai quán mũi… Ai quán
lưỡi… Ai quán thân… Ai quán ý… Ai quán các pháp… Ai quán ý thức… Ai quán ý xúc… Ai quán thọ…
Ai quán ái: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
(Ba độc tùy miên)

 

6
Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này)
là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà
hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước. Tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu
muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm
xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự
xuất ly khỏi cảm thọ ấy, vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không
đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên
vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có
thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.

Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức… Này các Tỷ-kheo, do duyên
mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ thức… Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi
lên thiệt thức… Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức… Này các Tỷ-
kheo, do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên
xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán,
trú ở ái trước, tham tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ mà sầu muốn, than van, than
khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ,
mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy;
vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên
đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối

7
với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện
tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
(Ðoạn tận ba độc)
Này các Tỷ-kheo do duyên mắt và do duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là
xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ, mà không
hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ, mà
không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng.
Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và
sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do
đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy
miên đối với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là
người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức… Này các Tỷ-kheo, do duyên
mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ thức… Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi
lên thiệt thức… Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức… Này các Tỷ-
kheo, do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên
cảm xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy cảm xúc lạc thọ mà không hoan hỷ, tán
thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm xúc khổ thọ mà không sầu
muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy không tùy tăng. Vị ấy cảm
xúc bất khổ bất lạc thọ mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly
khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy không tùy tăng.

8
Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do đoạn tận
tham tùy miên đối với lạc thọ, do tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do nhổ lên vô minh tùy miên đối
với bất khổ bất lạc thọ, đoạn tận vô minh, làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người
chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy xảy ra.
(Giải thoát)
Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly mắt, yếm ly các sắc, yếm ly nhãn thức;
yếm ly nhãn xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái. Vị ấy yếm ly tai, yếm ly các tiếng…; yếm ly mũi, yếm ly các
hương…; yếm ly lưỡi, yếm ly các vị…; yếm ly thân, yếm ly các xúc…; yếm ly ý, yếm ly các pháp; yếm ly
ý thức, yếm ly ý xúc, yếm ly thọ, yếm ly ái.
Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết: “Ta đã được
giải thoát”. Và vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở
lui trạng thái này nữa”.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi sự thuyết
giảng này được nói lên, tâm của sáu mươi Tỷ-kheo ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp
thủ

15 năm hạng chúng sinh
tiến trình của 5 khuẩn

Bình luận

Gọi cho chúng tôi

0987.86.2983

Liên hệ hỗ trợ
Chat ngay